Nghiên cứu đặc điểm hình thái cỡ sô phần thân cơ thể nam học sinh Trường tiểu học Tây Sơn và Mai Động – Hà Nội

Thứ tư - 08/06/2016 04:00
Nghiên cứu thường tiến hành đo đạc các kích thước nhân trắc như kích thước tĩnh và kích thước động. Kết quả nghiên cứu đặc điểm hình thái sẽ giúp cho các nhà thiết kế có cái nhìn toàn diện hơn về đặc điểm cơ thể người của từng lứa tuổi. Từ đó sẽ có những tính toán thiết kế hợp lý cho các dòng sản phẩm phục vụ nhu cầu của con người ở các độ tuổi khác nhau đặc biệt là đối tượng trẻ em. Xuất phát từ các lý do trên, chúng tôi đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu đặc điểm hình thái phần thân cơ thể nam học sinh hai trường tiểu học Tây Sơn và Mai Động - Hà Nội” nhằm góp phần đánh giá sự phát triển đặc điểm hình thái cơ thể của trẻ cũng như cung cấp các số liệu về hình thái cơ thể học sinh tiểu học phục vụ cho thiết kế đồng phục học sinh và trang thiết bị trường học
Nghiên cứu được tiến hành trên 427 em nam học sinh tiểu học (NHSTH) của hai trường TH Mai Động quận Hoàng Mai và TH Tây Sơn quận Hai Bà Trưng được lựa chọn làm mẫu khảo sát nhân trắc của đề tài. Lứa tuổi HSTH được xác định từ 7 đến 11 tuổi. Thời gian đo là tháng 4 năm 2011. Chúng tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang và đo theo phương pháp đo truyền thống các  kích thước nhân trắc. Các mốc đo được xác định bởi các mốc giải phẫu xương, cơ tương ứng. Phương pháp đo đạc theo đúng tiêu chuẩn TCVN 5781:1994 và xử lý số liệu bằng phương pháp thống kê sinh học.
Nghiên cứu một số kích thước nhân trắc được thực hiện tuần tự theo các bước: một là chọn đối tượng nghiên cứu và địa bàn nghiên cứu điển hình, hai là  xây dựng chương trình đo, ba là tiến hành đo, bốn là xử lý kết quả đo và năm là phân tích đánh giá về đặc điểm hình thái và sự phát triển các phần cơ thể của trẻ.
Các kích thước nhân trắc được xác định theo TCVN 5781:1994.
Kết quả nghiên cứu của các kích thước nhân trắc của phần thân cơ thể HSNTH được trình bày ở bảng 1.
                     Tuổi
Kích thước
7 8 9 10 11
Chiều cao cơ thể [Cct (cm)] 118,05 124,03 129,63 134,20 139,00
Cân nặng [Cn (kg)] 23,57 26,34 28,95 32,36 35,65
Rộng vai [Rv (cm)] 29,12 29,97 31,32 32,21 33,38
Xuôi vai [Xv (cm)] 3,04 3,35 3,47 3,50 3,53
Dài vai [Dv (cm)] 9,07 9,60 9,87 10,41 10,76
Vòng ngực [Vn (cm)] 59,36 63,07 63,85 66,46 67,79
Rộng ngực ngang nách [Rngn (cm)] 18,14 19,40 19,86 20,67 21,32
Dày lưng [Dl (cm)] 14,85 15,13 15,67 16,67 16,85
Rộng lưng ngang nách [Rln (cm)] 19,08 20,03 20,85 21,57 22,44
Vòng eo [Ve (cm)] 54,82 58,31 59,25 61,48 63,16
Rộng ngang eo [Rne (cm)] 16,70 18,00 19,01 19,45 20,38
Dày eo [De (cm)] 13,94 14,55 15,37 15,87 15,89
Vòng mông [Vm (cm)] 64,03 68,55 70,30 73,43 76,31
Rộng ngang hông [Rnh (cm)] 21,20 22,19 23,53 24,31 24,89
Dày mông [Dm (cm)] 14,64 15,72 16,54 17,38 18,22

Bảng  1. Kích thước nhân trắc trung bình của trẻ em trai từ 7 đến 11 tuổi

1. Đặc điểm chiều cao cơ thể và cân nặng

  Chiều cao cơ thể và cân nặng là hai tiêu chí được các nhà nghiên cứu về thể lực và hình thái quan tâm nhiều nhất, vì nó phản ánh khá rõ ràng về tầm vóc của con người ở mọi lứa tuổi và giới tính.
Theo như kết quả nghiên cứu ở bảng 1 chúng tôi thấy rằng chiều cao cơ thể và cân nặng của trẻ em trai lứa tuổi HSTH tăng dần theo năm nhưng tốc độ tăng không đều. Chiều cao có xu hướng tăng nhanh từ 7 đến 9 tuổi (từ 5,6 ÷ 5,98cm/ năm) và tăng chậm hơn từ 9 đến 11 tuổi (từ 4,57 ÷ 4,98cm/ năm). Ngược lại, cân nặng tăng chậm từ 7 đến 9 tuổi (từ 2,61 ÷ 2,77kg/ năm) và tăng nhanh từ 9 đến 11 tuổi (từ 3,29 ÷ 3,41kg/ năm). Sự khác nhau về phát triển chiều cao và cân nặng ở trẻ cho thấy quy luật phát triển của trẻ độ tuổi thiếu niên bé trải qua hai thời kỳ: từ 7 đến 9 tuổi là thời kỳ phát triển về chiều cao, từ 9 đến 11 tuổi là thời phát triển về chiều dày. Sự phát triển này có thể được lý giải như sau:
-Từ 7 đến 9 tuổi trẻ chuyển từ tuổi mẫu giáo sang đi học. Các sinh hoạt của trẻ có nhiều thay đổi như không gian hoạt động, chế độ chăm sóc ăn uống, học tập. Lúc này trẻ tham gia nhiều hoạt động hơn về thể lực điều đó làm cho trẻ phát triển chiều cao nhanh hơn. Mặt khác sự chăm sóc trẻ về dinh dưỡng không được thường xuyên như khi trẻ ở mẫu giáo cũng là một nguyên nhân làm cho trẻ ở thời kỳ này tăng cân ít hơn.  
- Còn từ 9 đến 11 tuổi trẻ đã thích nghi với môi trường học tập vì vậy việc học tập ít ảnh hưởng đến dinh dưỡng của trẻ hơn, do đó trẻ tăng cân nhiều hơn giai đoạn trước. Ở tuổi này, trẻ bắt đầu thích các trò chơi trí tuệ hơn, giảm dần các hoạt động nô đùa, chạy nhảy. Do đó chiều cao của trẻ có xu hướng tăng chậm hơn giai đoạn trước.
Để so sánh tầm vóc của trẻ với các công trình nghiên cứu trước đây, chúng tôi đã tính chỉ số BMI = Cân nặng (kg)/[chiều cao cơ thể(m)]2 . Kết quả tính toán chỉ số BMI cho thấy tình trạng dinh dưỡng của trẻ ở mức bình thường theo thang phân loại BMI của châu Á.
Tuổi Chiều cao cơ thể (cm) Cân nặng (Kg) Chỉ số BMI (Kg/m2)
Năm 2004 Năm 2011 Năm 2004 Năm 2011 Năm 2004 Năm 2011
7 115,43 ± 5,74 118,1± 4,59 19,66 ± 3,27 23,57 ± 3,89 14.76 16.90
8 120,76 ± 5,97 124,0 ± 4,62 21,59 ± 4,15 26,34 ± 4,02 14.80 17.13
9 125,02 ± 6,36 129,6 ± 4,28 23,63 ± 4,85 28,95 ± 4,27 15.12 17.24
10 129,37 ± 6,49 134,2 ± 4,81 25,94 ± 5,50 32.36 ± 4,3 15.50 17.97
11 133,90 ± 6,70 139,0 ± 4,40 27,66 ± 5,46 35.65 ± 4,9 15.43 18.45
So sánh kết quả thu được trong nghiên cứu này với kết quả nghiên cứu của Lô Văn Tùng (bảng 2) có thể thấy chiều cao cân nặng và chỉ số BMI của HS trong nghiên cứu của chúng tôi cao hơn so với số liệu của tác giả nêu trên. Nguyên nhân của tăng trưởng này là do chế độ dinh dưỡng, thói quen sinh hoạt, thời điểm và địa bàn nghiên cứu khác nhau.
2. Đặc điểm phần vai
Vai  là phần cơ thể tiếp giáp với chân cổ được tạo thành từ 2 xương đòn, 2 xương mỏm cùng vai và các cơ vai. Hình dạng vai được xác định chủ yếu bởi 3 kích thước: rộng vai, xuôi vai và dài vai con. Kích thước rộng vai phản ánh sự phát triển của các xương vai. Dài vai con là chiều dài đoạn vai tính từ góc cổ vai đến xương mỏm cùng vai tương ứng với đường vai con khi thiết kế áo. Xuôi vai thể hiện độ dốc của đường vai con. Xuôi vai được tạo ra nhờ sự phát triển của cơ thang và một số cơ phần vai.
Kích thước Rv của trẻ em trai lứa tuổi HSTH phát triển chậm, trung bình tăng từ 0,86 ÷ 1,34 cm/ năm. So với tiêu chuẩn TCVN 5782:2009, kích thước Rv của trẻ em trai hiện nay tăng từ 0,97÷1,38cm/tuổi. Độ xuôi vai của trẻ em tuổi tiểu học thay đổi nhiều từ 7 sang 8 tuổi, còn từ 8 đến 11 tuổi, kích thước Xv hầu như không thay đổi. Xuôi vai trung bình của các em là 3 ÷ 3,5cm. Hầu hết các em có hình dáng vai ngang, do cơ thang chưa phát triển nhiều. Lên 11 tuổi, một số em đã đạt được độ xuôi vai trung bình ở người lớn là 4,5cm tuy nhiên tỷ lệ này còn ít (chiếm 16,4%). Cũng như rộng vai, dài vai của trẻ tăng khá đều qua các năm, trung bình tăng từ  0,27 ÷ 0,54cm/năm. Từ 7 đến 8 tuổi, chiều dài vai của các em tập trung nhiều ở mức 9,5±0,45cm (chiếm 57,6÷64,5%). Từ 9 đến 11 tuổi, chiều dài vai của các em tăng thêm trung bình 0,5cm mỗi năm, tỷ lệ này chiếm từ 65,5÷75,9% ở mỗi độ tuổi.
3. Đặc điểm phần ngực và lưng
                     Tuổi
Năm
7 8 9 10 11
1962 54,74 55,65 57,28 58,34 60,22
2009 58,00 59,00 62,00 64,00 66,00
2011 59,36 63,07 63,85 66,46 67,79
Bảng 3. So sánh sự phát triển kích thước Vn của trẻ em qua các năm
So với kết quả nghiên cứu của năm 1962 và 2009 (bảng 3) thì HS trong nghiên cứu của chúng tôi có số đo vòng ngực lớn hơn. Điều này chủ yếu do sự phát triển về kinh tế nên chế độ dinh dưỡng của trẻ hiện nay đầy đủ hơn rất nhiều so với trước đây. Vì vậy trẻ em càng ngày càng có xu hướng to béo hơn.
4. Đặc điểm phần bụng
Đặc điểm phần bụng được đánh giá thông qua các kích thước: vòng eo, dày eo, rộng ngang eo. Số liệu trong bảng 1 cho thấy từ 7 đến 8 tuổi vòng eo tăng nhanh. Ve tăng 3,49 cm; Rne tăng 1,3cm; De tăng 0,61cm. Phần bụng trẻ vẫn có dạng tròn, chênh lệch giữa rộng ngang eo và dày eo còn ít (2,75cm). Từ 8 đến 9 tuổi vòng eo tăng chậm (0,94cm), hình dáng bụng bớt tròn và có xu hướng chuyển sang dạng dẹt, chênh lệch giữa rộng eo và dày eo tăng lên (3,45cm). Còn từ 9 đến 11 tuổi vòng eo tăng khá đều trung bình 2cm/năm.
5. Đặc điểm phần mông
Đặc điểm phần mông của trẻ em trai từ 7 đến 11 tuổi ít có sự thay đổi về hình dáng do bề dày mông và bề rộng có sự phát triển tương đương nhau. Độ chênh lệch giữa Rnh và Dm còn ít và thay đổi không đáng kể ở các độ tuổi (bảng 1). Điều này chứng tỏ phần xương chậu của các em ở độtuổi này còn ít phát triển về chiều rộng. Như vậy ở tuổi này phần mông còn chưa phát triển mạnh, do đó khi thiết kế quần cho các em không nên thiết kế dáng bó sát sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của các em.
6. Kết luận
Các kích thước nhân trắc của NHSTH thay đổi theo độ tuổi, tốc độ tăng không giống nhau; Chiều cao tăng nhanh từ 7 ÷ 9 tuổi (5,6÷ 5,98cm/năm) và tăng chậm hơn từ 9÷11 tuổi (4,57 ÷ 4,98cm/năm); Tình trạng dinh dưỡng của trẻ ở mức bình thường theo thang phân loại BMI của châu Á; Kích thước Rv của trẻ em trai lứa tuổi tiểu học phát triển chậm, trung bình tăng từ 0,86 ÷ 1,34 cm/ năm. Xuôi vai trung bình của các em là 3 ÷ 3,5cm. Vai có đặc điểm lad vai ngang; Trẻ có sự thay đổi rõ rệt về hình dáng người từ tròn sang dẹt.
 
Tài liệu tham khảo
  1. Nguyễn Quang Quyền, Nhân trắc học và sự ứng dụng nghiên cứu trên người Việt Nam, NXB Y học (1974).
  2. Lô Văn Tùng, Nguyễn Ngọc Nga, Đặng Anh Ngọc (2004), Tăng trưởng thể chất của học sinh Việt Nam trong những năm đầu của thế kỷ XXI, Hội nghị khoa học quốc tế y học và vệ sinh môi trường lần thứ 2, nhà xuất bản Y học, 710-717, 2005
  3. TCVN 5781:1994, Phương pháp đo cơ thể người
  4. TCVN 5782:2009, Hệ thống cỡ số tiêu chuẩn quần áo,Hà Nội, 2009.
  5. BS 7231:1990; Body measurements of boys and girls from birth up to 16.9 years; part 2, Recommendations of  body dimentions for children, 1990
     
SUMMARY           
This research was done 2011 in order to assess the characteristic of primary school boys’ body morphology. The research result showed that anthropometric size of primary schoolboys was changed according to their age and their growth rate was not similar. The height increases fast from 7 to 8 years old (5,6÷5,98cm/year) then, the growth of height slows down during the age 9÷11 (4,57÷4,98cm/year). Nutritional status of the children is normal according to the BMI scale of Asian. The width of shoulder grows slowly; increase average from 0,86 cm to 1,34 cm/year. The slope of the shoulder is around 3 ÷ 3,5 cm. Children have square-shoulders. Child body specifically changed from round shape to flat shape. The research result contributed to the growth characteristic assessment of child’s body morphology; was a data on primary schoolboys’body morphology served to the design of primary school’s equipments.
 

Nguồn tin: GV Lã Thị Ngọc Anh - Trường ĐH Bách Khoa; GV Phạm Thị Hoa Hồng Tươi - Trường Đại Học Sao Đỏ

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Thống kê truy cập
  • Đang truy cập57
  • Hôm nay890
  • Tháng hiện tại18,402
  • Tổng lượt truy cập199,052
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây