Tay áo là phần của trang phục che phủ cánh tay của chúng ta. Chúng mang đến rất nhiều khả năng thiết kế và cũng đặt ra nhiều thách thức khi nói đến việc may, thiết kế và chỉnh sửa độ vừa vặn.
C1
1. Tay áo
Cấu tạo của tay áo gồm: Vòng nách tay, là phần nằm phía trên của tay áo. Chiều cao vòng nách là khoảng cách dài nhất giữa đường vòng nách trên và điểm vai. Đường rộng ngang nách tay, rộng ngang khuỷu tay và rộng ngang gấu áo là các số đo ngang của tay áo. Chúng là những chỉ số quan trọng để đảm bảo sự vừa vặn. Điểm vai đánh dấu điểm cao nhất của tay áo và phải trùng với đường may vai của áo. Đường thẳng đứng từ điểm vai phân chia tay áo thành mặt trước và mặt sau của tay áo.
Vòng nách hay đường cong tay áo quyết định vòng nách tay áo vừa vặn với vòng nách của áo. Đường cong này cũng cho biết mặt trước và mặt sau của tay áo, vì đường cong dốc hơn luôn biểu thị mặt trước - đường cong dài hơn ở phía sau. Cần lưu ý rằng vòng nách áo đóng vai trò rất quan trọng trong thiết kế tay áo. Tay áo luôn được thiết kế riêng cho một kích thước nách áo cụ thể – hai phần này tạo thành một thể thống nhất. Do đó, không thể tùy ý hoán đổi tay áo giữa các mẫu thiết kế và bất kỳ sự thay đổi nào đối với nách áo cũng đòi hỏi phải thay đổi tay áo và ngược lại. 2. Tay áo liền thân và tay áo 2 mảnh
Tay áo thường được làm liền một mảnh hoặc hai mảnh. Trong những trường hợp ngoại lệ và với những thiết kế đặc biệt, chúng có thể được làm từ nhiều mảnh hoặc có đường may khác nhau.
Kiểu tay áo cổ điển bao gồm phần tay áo trên và phần tay áo dưới. Điều này tạo ra tay áo hai mảnh, giúp tôn dáng hơn so với tay áo một mảnh. Khi chúng ta thả lỏng hoàn toàn, cánh tay không thẳng xuống mà vẫn nghiêng về phía trước do cấu tạo giải phẫu của cơ thể. Một tay áo vừa vặn nên theo đường cong tự nhiên của cánh tay, và tay áo hai mảnh đạt được điều này tốt nhất. Vì vậy, tay áo hai mảnh đặc biệt phổ biến trong áo khoác, áo blazer và áo choàng, nhưng cũng được sử dụng trong những chiếc váy cần sự gọn gàng và vừa vặn. Hơn nữa, chất liệu vải ngoài thường dày hơn, chẳng hạn như len, có thể được tạo hình dễ dàng hơn bằng phương pháp này so với phương pháp may chiết eo. Đối với tay áo một mảnh, nhờ phần tay áo cao và các đường chiết eo bổ sung ở cẳng tay và thường cả ở khuỷu tay, kiểu tay áo này cũng đạt được độ vừa vặn tốt – mặc dù không hoàn toàn tốt bằng tay áo hai mảnh. Mặt khác, áo blouse và áo sơ mi nhẹ với tay áo rộng (rộng hoặc có bo chun ở cổ tay) lại có cách tiếp cận thoải mái hơn đối với tay áo liền mảnh, nhưng cần độ rộng hơn. Những tay áo này được cắt rộng hơn và chấp nhận một số nếp nhăn. Chúng trông giản dị hơn và yêu cầu về độ vừa vặn và cấu trúc cũng thấp hơn. Tay áo len làm từ vải dệt kim co giãn cho phép độ ôm sát cơ thể vừa đủ ngay cả với thiết kế liền mảnh.
3. Tay áo thường không thể đối xứng
Vì sao tay áo thường không thể đối xứng và điều đó dẫn chúng ta đến lý do tại sao tay áo lại có hình dạng như vậy. Nếu chúng ta xem xét cấu tạo giải phẫu của cơ thể, đặc biệt là vùng nách và đai vai, chúng ta sẽ nhanh chóng nhận thấy rằng phần trước trông khác với phần sau. Ở phía trước là xương đòn, nối đai vai với thân mình. Giữa đáy ngực và xương đòn là cơ ngực lớn và cơ delta trước, thường phẳng. Do đó, đường viền phía trước của tay áo cũng dốc hơn.
Ở vùng lưng trên, phần nách chủ yếu chịu ảnh hưởng bởi xương bả vai và các cơ phía sau vai. Cùng với các cơ lưng, chúng tạo thành một đường cong. Và vì chúng ta nghiêng người về phía trước, điểm vai, tức là điểm cao nhất của tay áo, không nằm chính giữa chiều rộng tay áo mà luôn hơi lệch về phía trước (điều tương tự cũng áp dụng cho đường may vai của trang phục, được dịch chuyển về phía trước khoảng một centimet trong thiết kế để tạo vẻ ngoài dễ nhìn hơn).
Do những khác biệt về giải phẫu rõ rệt này, tay áo không thể đối xứng – ngoại trừ tay áo kimono hoặc các loại trang phục có kiểu dáng rất rộng.
Tay áo và thân áo nên gặp nhau ở điểm vai. Điểm này được xác định về mặt giải phẫu bởi mỏm cùng vai. Mỏm cùng vai là một phần xương nhô ra ở phía trên xương bả vai. Đó là điểm cao nhất của vai, do đó có tên gọi là "chiều cao vai". Chúng ta có thể cảm nhận chiều cao vai như một chỗ lồi nhỏ ở phía trên vai.
Chúng ta cũng cần một khoảng trống ở chiều cao vai trong tay áo - cho các cơ vai bên, cong ra ngoài từ mỏm cùng vai. Khoảng trống này cần thiết cho sự thoải mái và cử động. Do đó, tay áo may liền sẽ hơi loe ra ở đường may và đây chính là nơi cần có độ cử động thoải mái.
4. Thiết kế độ rộng thoải mái ở phần nách áo.
Việc may hai mảnh vải có chiều dài khác nhau mà không có nếp gấp hoặc nếp nhăn có những hạn chế của nó. Tùy thuộc vào loại vải, chúng ta có thể may nhiều hoặc ít chiều dài lại với nhau mà không có nếp nhăn. Nhưng có những cách khác để kiểm soát chiều rộng, chẳng hạn như xếp ly, tức là tay áo xếp ly (1) . Nếu chúng ta muốn chiều rộng tăng dần thì đường chiết eo là lựa chọn đúng đắn (2) và đối với tay áo phồng, xòe ra rất phổ biến vào những năm 1930 và 40, chúng ta sử dụng nếp gấp (3)
Qua quá trình tìm hiểu về tay áo trong thiết kế trang phục, có thể thấy rằng tay áo là một bộ phận quan trọng, không chỉ giúp hoàn thiện chức năng sử dụng mà còn góp phần tạo nên tính thẩm mỹ cho sản phẩm. Mỗi kiểu tay áo khác nhau sẽ mang lại cảm giác và phong cách riêng, đồng thời ảnh hưởng đến độ thoải mái khi mặc. Việc nắm rõ đặc điểm của các dạng tay áo giúp người thiết kế lựa chọn và áp dụng phù hợp vào từng loại trang phục cụ thể. Nhờ đó, sản phẩm không chỉ đẹp hơn mà còn đảm bảo sự tiện dụng và phù hợp với nhu cầu người mặc.